Hơn 90% trẻ em nhỏ nhiễm HIV ở Việt Nam cũng như ở các nước trên thế giới là do mẹ truyền sang. Do đó, làm thế nào để giảm được tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con là cả một chương trình kế hoạch rất lớn. Đây là một trong những chương trình hành động nằm trong Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Thạc sĩ Nguyễn Văn Kính, Phó Cục trưởng Cục phòng, chống HIV/AIDS cho biết: Theo các nghiên cứu trên thế giới, nếu không được dự phòng thì tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con vào khoảng 30%. Mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con giai đoạn 2006 – 2010 là khống chế tỷ lệ trẻ em bị nhiễm HIV do mẹ truyền sang xuống dưới 10% vào năm 2010. Ở Việt Nam hiện nay, thuốc đã sẵn có hơn, nếu chúng ta sử dụng tất cả các biện pháp thì có thể giảm được tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con như một số nước trong khu vực. Năm 1990, Thái Lan bắt đầu triển khai hoạt động tư vấn và xét nghiệm HIV tại các bệnh viện lớn và đến năm 1997 triển khai thí điểm chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con (PMTCT). Từ năm 1998, Thái Lan triển khai chương trình PMTCT trên toàn quốc. Chương trình PMTCT đã có tác động rõ rệt làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhi nhiễm HIV/AIDS tại Thái Lan. Hiện nay, Thái Lan đã giảm được tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con chỉ còn 2%. Đây là một thắng lợi rất lớn trong dự phòng lây truyền từ mẹ sang con. Thạc sĩ Nguyễn Văn Kính nhấn mạnh: Để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con thì điều quan trọng nhất là chúng ta phải dựa vào Chương trình hành động quốc gia về phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con giai đoạn 2006 – 2010 đã được Bộ Y tế ban hành. Trong chương trình hành động đó có những nội dung vô cùng quan trọng phải tập trung triển khai, đó là: Làm thế nào tăng cường truyền thông chuyển đổi hành vi và tư vấn để cho phụ nữ mang thai thấy được nguy cơ mình có thể bị nhiễm HIV và khi bị nhiễm như vậy rồi thì có khả năng truyền sang cho con để khuyến khích họ tự nguyện xét nghiệm HIV sớm. Theo phác đồ của Bộ Y tế, nếu phát hiện và điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con từ khi mang thai tuần lễ thứ 28 đến khi đẻ thì tỷ lệ lây truyền sẽ giảm xuống rất nhanh, có khi chỉ còn vài phần trăm thôi. Điều quan trọng là hiện nay, hệ thống của chúng ta chưa được thiết lập và hoạt động một cách có hiệu quả. Chúng ta còn đang lồng ghép với nhiều hoạt động khác nhau ví dụ như trong cuộc vận động gắn với dân số kế hoạch hóa gia đình có một chút nói về HIV. Nó chưa thành bài bản để làm sao đưa được thông tin này đến với từng chị em phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ. Đấy là điều vô cùng quan trọng. Vấn đề thứ 2 là làm thế nào để cung cấp được các dịch vụ. Khi người ta được tư vấn tốt thì người ta đi xét nghiệm. Khi đó phải có dịch vụ xét nghiệm giá rẻ. Ước tính ở Việt Nam, mỗi năm có khoảng 2 triệu phụ nữ mang thai. Và nếu dành tiền ngân sách chi cho công tác phòng, chống HIV/AIDS chỉ để làm xét nghiệm sàng lọc thôi, thì với giá cả bình thường hiện nay khoảng 50.000 đ cho một test thì mỗi một năm chúng ta cũng sẽ tốn khoảng 100 tỷ đồng. Chương trình quốc gia hiện nay cũng chỉ có khoảng 100 tỷ đồng, nếu chỉ dành cho việc xét nghiệm sàng lọc cho phụ nữ mang thai thì cũng không còn ngân sách để triển khai những hoạt động khác. Do đó, để phụ nữ mang thai đi xét nghiệm HIV thì phải thông qua tư vấn xét nghiệm tự nguyện. Đặc biệt là phải tư vấn cho những người có nguy cơ nhiễm HIV. Phải tiến tới xã hội hóa việc sàng lọc này để phát hiện sớm phụ nữ mang thai nhiễm HIV. Vấn đề thứ 3 là dự phòng có thai ngoài ý muốn của những cặp vợ chồng đã nhiễm HIV. Cả hai vợ chồng cùng nhiễm HIV thì khả năng lây sang cho con rất cao. Do đó, phải tăng cường chăm sóc và điều trị cho người lớn đặc biệt là người phụ nữ nhiễm HIV và phải cho họ thấy được nguy cơ lây sang cho con để quyết định có thai hay không có thai. Và tốt nhất là những người nhiễm HIV như thế không nên có thai. Tất nhiên, do điều trị dự phòng, tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con có thể giảm xuống chỉ còn một vài phần trăm nhưng biết đâu một vài phần trăm đó lại rơi vào đúng cặp đó thì lại sinh ra một cháu nhiễm HIV. Vấn đề thứ 4 là sớm sử dụng ARV để điều trị dự phòng và có lẽ đây là biện pháp khả thi nhất, mang lại hiệu quả nhìn thấy rõ được nhưng tiếc thay ở Việt Nam, đến gần 90% phụ nữ mang thai khi nào đến phòng đẻ mới được tư vấn và xét nghiệm HIV cho nên không được điều trị sớm. Và đến lúc đó, theo phác đồ hiện nay của Bộ Y tế ban hành thì chúng ta chỉ dùng một liều duy nhất Nevirapin 200 mg cho mẹ và sau đó sirô AZT cho con uống trong 4 tuần.. Khi trẻ vể nhà phải tiếp tục xét nghiệm khẳng định xem người mẹ có thật sự nhiễm HIV hay không, vì lúc trước mới chỉ là xét nghiệm sàng lọc thôi, không khẳng định được. Cho nên nó mang lại lợi ích chưa được nhiều lắm. Nhưng chí ít chỉ dùng một liều Nevirapin duy nhất như vậy cũng đã giảm được khả năng lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 10%. Vấn đề thứ 5 trong dự phòng lây truyền từ mẹ sang con là chính sách hỗ trợ cho người mẹ và đứa trẻ. Không phải tất cả những người mẹ nhiễm HIV thì đẻ con đều bị nhiễm HIV. Có rất nhiều cháu, mẹ nhiễm HIV nhưng cháu không nhiễm. Để khẳng định cháu có nhiễm hay không thì theo tất cả các xét nghiệm thông thường hiện nay, phải đợi đến khi cháu trên 18 tháng tuổi mới có thể khẳng định được. Nhưng đợi được đến thời gian đó thì theo thống kê trước đây của nghiên cứu của các tổ chức quốc tế, phải tới 50% số trẻ nhiễm HIV từ mẹ có thể chết trong 2 năm đầu. Nên chúng ta chỉ có thể tác động vào 50% số còn lại thôi. Do đó, xu hướng hiện nay là làm sao chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ. Để chẩn đoán sớm cho trẻ dưới 18 tháng tuổi có thể dùng kỹ thuật PCR nhưng kỹ thuật này rất đắt tiền (100 – 150 USD/test) và phải đặt ở những labo hiện đại và cũng không thể làm rộng rãi được. Trong một số dự án, nếu có thể hỗ trợ được thì chúng ta cũng cố gắng chẩn đoán sớm cho các cháu để cho những cháu không bị nhiễm được sống như những trẻ bình thường khác. Còn cháu nào bị nhiễm thì chăm sóc hỗ trợ cho cháu, tư vấn cho gia đình chăm sóc một cách đầy đủ.. Thạc sĩ Nguyễn Văn Kính cho biết thêm: Nếu chẩn đoán sớm, điều trị sớm thì đứa trẻ có khả năng sống và kéo dài cuộc sống trong nhiều năm chứ không phải là thời gian ngắn ngủi như trước đây khi chưa có thuốc. Kiều Nga |