Pháp luật về giảm thiểu tác hại phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS Đặng Thanh Sơn Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính, Bộ Tư pháp (Tiếp theo kỳ trước) Điều 20, Dự án Luật phòng, chống HIV/AIDS đã đề cập đến các giải pháp liên quan đến giảm tác hại. Đó là: 1. Các biện pháp can thiệp giảm tác hại của HIV/AIDS gồm: - Các biện pháp can thiệp bằng truyền thông hay thay đổi hành vi; - Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su, bơm kim tiêm sạch; - Các biện pháp can thiệp giảm tác hại của HIV/AIDS khác. 2. Chính phủ quy định việc tổ chức triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại của HIV/AIDS.” Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý cao cho việc triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại của HIV/AIDS. Tuy nhiên, việc quy định tại Dự án Luật chủ yếu mang tính nguyên tắc chung, còn việc tổ chức triển khai cụ thể sẽ giao cho Chính phủ. Pháp luật phòng, chống ma túy năm 2000, Pháp lệnh phòng chống mại dâm năm 2003 (có hiệu lực từ 1/7/2003) là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao trong phòng chống tệ nạn xã hội. Pháp lệnh phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 1995 là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất hiện hành về phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam. Cả ba văn bản nói trên đều khẳng định nghiêm cấm mại dâm, tiêm chích ma túy và các hành vi làm lây truyền HIV/AIDS khác. Luật phòng, chống ma túy năm 2000 quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý … (Điều 1). Điều 3 của Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó chỉ rõ: Nghiêm cấm “3. Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy.” “4. Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy.” Pháp luật phòng chống mại dâm năm 2003 quy định những biện pháp phòng chống mại dâm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và gia đình trong phòng chống mại dâm (Điều 1). Điều 4 của Pháp lệnh quy định các hành vi bị nghiêm cấm đã quy định: nghiêm cấm “lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm”, “Các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của pháp luật”. Pháp lệnh phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 1995 quy định tại Điều 12 như sau: “1. Mọi người phải chủ động phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS qua đường tình dục tiêm chích. 2.Nghiêm cấm các hành vi mua dâm, bán dâm, tiêm chích ma túy và các hành vi làm lây truyền HIV/AIDS khác.” Có thể nói, các văn bản pháp luật trên hầu như không đề cập đến vấn đề giảm tác hại trong phòng chống mại dâm, ma túy nhằm phòng ngừa sự lây truyền HIV/AIDS. Các quy định chủ yếu thể hiện tinh thần kiên quyết đấu tranh nhằm làm giảm thiểu tệ nạn xã hội mại dâm ma tuý. Việc phòng ngừa lây nhiễm HIV qua đường tình dục, tiêm chích ma tuý là nghĩa vụ của mọi người phải chủ động thực hiện nhằm bảo vệ bản thân mình và sự an toàn của cộng đồng. Qua tìm hiểu về tình hình luật pháp về các biện pháp can thiệp giảm tác hại phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS từ tệ nạn mại dâm, ma tuý của nước ta cho thấy một số nhận xét sau: Thực tế quá trình tiến hành các biện pháp can thiệp giảm tác hại đã được tiến hành từ lâu và ở các mức độ khác nhau ở các nước trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành về vấn đề này và cho thấy nó đã đạt được những kết quả rất lớn ở Châu Âu và ở Hoa Kỳ. Quá trình tiến hành các biện pháp giảm tác hại cũng vấp phải những rào cản về luật pháp và dần dần các nước đó đã phải sửa đổi các quy định gây khó khăn cho việc triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại nhưng ở những mức độ khác nhau (chủ yếu ở cấp Bang trong các nhà nước Liên bang hoặc cấp Bộ) trong khoảng thời gian dài ngắn khác nhau. Việc xem xét thay đổi quy định về luật pháp ở Hoa Kỳ và Inđônêsia phản ánh thực tế này. Kinh nghiệm của quốc tế trong việc tiến hành các hoạt động can thiệp giảm tác hại từ mại dâm ma túy là rất hữu ích đối với Việt Nam. ở Việt Nam, các chương trình can thiệp giảm tác hại đã được triển khai ở một số địa phương ở các quy mô rộng hẹp khác nhau nhưng chủ yếu mang tính chất thí điểm và cũng thu được kết quả tốt, nhất là trong việc phân phối bao cao su. Tuy nhiên, việc triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại cũng gặp những khó khăn vướng mắc nhất định, nhất là trong nhận thức, tổ chức chỉ đạo thống nhất và phối hợp đồng bộ, kể cả về cơ sở pháp lý vững chắc và toàn diện và những khó khăn từ nhiều nguyên nhân khác nhau đòi hỏi phải giải quyết. Bên cạnh lý do quy định của luật pháp, các yếu tố về văn hóa, phong tục tập quán, trình độ nhận thức, thực trạng quản lý nhà nước… cũng là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại từ ma túy, mại dâm. (Kỳ sau đăng tiếp) |